Hoa Thịnh Đốn.- Ông, Cha ta từng dậy con cháu “hãy coi chừng họa vô đơn chí”, không ngờ đất nước Việt Nam ở Thế kỷ 21 lại đang phải đối diện với lời cảnh giác này dưới thời đảng Cộng sản cầm quyền.
Rất tiếc cả hai cái họa đem đến cho dân tộc đều do Tầu Bắc Kinh chủ mưu, nhưng Đảng và Nhà nước CSVN lại chỉ biết nhượng bộ để phòng thân trong lồng kính của chữ nghĩa do Trung Hoa viết ra cho Lãnh đạo Việt Nam học thuộc lòng, đó là : “ Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”
Những chữ tình nghĩa “mật ngọt chết ruồi ” này của lãnh đạo Bắc Kinh đã chứng minh qua hai thỏa hiệp về lãnh thổ được Nhà nước CSVN ký với Trung Hoa năm 1999 trong “Hiệp Hiệp ước biên giới trên đất liền” và “Hiệp ước phân định vịnh Bắc Bộ 2000” .
Đối với Hiệp định trên đất liền, Việt Nam khoe đã hòan tất cắm mốc phân chia biên giới ngày 31-12-2008 rồi sau đó phát động chiến dịch tuyên truyền cho điều mà đảng CSVN gọi là “biến cố lịch sử” này, đồng thời minh xác không hề nhượng đất cho Tầu tại hai vị trí lịch sử là Bản Giốc và Ải Nam Quan.
Riêng Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ năm 2000, Trưởng đòan Việt Nam đám phán với Trung Hoa, Vũ Dũng cho biết: “Hiện nay hai bên có 3 diễn đàn có liên quan đến biển Đông. Thứ nhất là trưởng đoàn đàm phán chính phủ về biên giới lãnh thổ. Diễn đàn thứ hai là diễn đàn về đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển ở khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ. Đến nay hai bên đã đàm phán được nhiều vòng và đã đạt được những thỏa thuận mang tính nguyên tắc rất quan trọng đối với khu vực cửa vịnh Bắc Bộ. . Diễn đàn thứ 3 là hai bên thảo luận về các vấn đề trên biển, bàn về các vấn đề ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, cụ thể là liên quan đến hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hai bên cũng đã thỏa thuận là sắp tới đây sẽ tăng nhịp độ đàm phán của các diễn đàn này. Tôi tin là hợp tác trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc sắp tới đây sẽ được mở rộng và tăng cường hơn nữạ” (Báo Điện tử Trung ướng đảng CSVN, 25/02/2009)
Khi Vũ Dũng nói như thế thì Trung Hoa đã tăng cường các họat động quân sự gây hấn với mưu toan chiếm nốt các đảo còn lại trong Quần đảo Trường Sa, sau khi đã chiếm một số đảo từ tay quân CSVN năm 1988. Trung Hoa cũng đã xây dựng các cơ sở hành chính và quân sự tại Quần đảo Hòang Sa mà Bắc Kinh đã chiếm từ tay Hải quân của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974.
Song song với các họat động quanh hai Quần đảo của Việt Nam, Tầu Bắc Kinh còn đe dọa các hãng tìm kiếm Dầu và Hơi đốt Quốc tế dự định hợp tác với Việt Nam.
Ngày 8/3 (2009) còn xẩy ra vụ 5 tầu tuần tiễu vá đánh cá của Trung Hoa bao vây tầu thăm dò đáy biển USNS Impeccable của Mỹ họat động ở khu vực 75 hải lý phía nam đảo Hải Nam, nhưng Bắc Kinh lại nói tầu Mỹ đã xâm phạm vùng “Đặc quyền kinh tế” của họ , có diện tích chiếm 75% Biển Đông, kể cả hai Quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.
TUYÊN TRUYỀN CHO AI ?
Tòan cảnh của vấn đề chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam sau 10 năm có Hiệp ước trên đất liền và 9 năm trên Biển Đông, cho đến nay, đối với tòan dân Việt Nam, vẫn còn mờ mịt vì chính quyền CSVN chưa chịu công bố tòan văn hai Hiệp ước có Bản đồ đính kèm để cho dân so sánh với các văn kiện lịch sử.
Ngay cả Quốc Hội, cơ quan Lập pháp của nhà nước cũng không dám đòi đảng cung cấp tài liệu và bản đồ để xem lợi và hại ra sao so với Công ước Pháp - Thanh 1885-1897.
Qua hành động coi thường dân đến mức như thế, nhà nước CSVN đã tự vạch áo cho người xem lưng rằng mình không phải là “của dân, do dân và vì dân” như vẫn tuyên truyền.
Chẳng những thế, đảng CSVN còn bịp dân qua Tài liệu tuyên truyền có tên “Quá trình đàm phán và kết quả phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam-Trung Quốc”, công bố ngày 22/1/2009.
Một đọan của Tài liệu viết quanh co : “ Trong hơn 100 năm qua kể từ khi các Công ước Pháp – Thanh được ký kết, đường biên giới giữa hai nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết và do biến động về chính trị - xã hội ở mỗi nước cũng như trong quan hệ hai nước, đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới 1979. Từ nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới, tình hình tranh chấp căng thẳng ở các khu vực biên giới diễn ra khá phổ biến.
Thực tế cho thấy, việc hoạch định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh được xúc tiến hơn 100 năm trước với phương tiện và điều kiện hạn chế lúc đó nên lời văn và bản đồ không được đầy đủ, rõ ràng, chính xác. Các cột mốc biên giới được cắm từ cuối thế kỷ 19 không được xác định bằng lưới tọa độ; mặt khác, cùng với thời gian nhiều mốc đã bị hư hỏng, thậm chí bị mất, một số mốc bị xê dịch; nhiều mảnh bản đồ gốc cũng không còn, tại nhiều khu vực trên đường biên giới đã xảy ra sự chuyển dịch dân cư không phù hợp với đường biên giới pháp lý. Vì những lẽ đó, việc nảy sinh những nhận thức khác nhau, thậm chí tranh chấp là điều dễ hiểụ”
Nhưng nếu muốn làm rõ Việt Nam không bị mất đất, mất biển về tay Trung Hoa thì có hại gì mà phải giấu diếm Bản đồ để chứng minh cho việc làm “thanh thiên, bạch nhật” của mình ? Và việc gì mà phải cấm dân không được bén mảng đến các khu vực cắm mốc để quan sát, nhất là hai khu vực Bàn Giốc và Ải Nam Quan là những địa danh đã ghi trong lịch sử lãnh thổ của Việt Nam cả trăm năm trước ?
Để hóa giải cho hành động “đi tắt, về đêm” của đảng CSVN đối với biên giới Việt-Tầu, Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã chỉ thị cho cán bộ học thuộc bài rằng : “Việc hoàn thành phân, giới cắm mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ đối với nước ta và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, mà còn đối với cả khu vực và trên thế giới. Do vậy, chúng ta cần làm tốt công tác tuyên truyền để phát huy thành quả đó, đồng thời đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu trong và ngoài nước.”
Tài liệu tuyên truyền nhấn mạnh vào 6 điềm :
1. Tuyên truyền, giải thích rõ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất là ở các tỉnh, các khu vực biên giới về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, đưa Hiệp ước 1999 vào thực tế cuộc sống.
2. Hoàn thành phân giới, cắm mốc là thành tích chung của các lực lượng phân giới, cắm mốc, đặc biệt là đồng bào, chiến sỹ biên giới, là thành quả chung của nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc, kết quả đạt được là cân bằng, việc điều chỉnh tại một số khu vực trên cơ sở cân bằng về lợi ích là cần thiết, được hai bên cùng chấp nhận, hoàn toàn không có chuyện “mất đất” hoặc “cắt đất” như luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch.
3. Cùng với việc tuyên truyền về kết quả phân giới, cắm mốc, cần tăng cương tuyên truyền về tình hữu nghị truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, về chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc.
4. Cần nêu bật chủ trương của Đảng và Nhà nước ta kiên trì thông qua đàm phán hòa bình giải quyết các tồn tại, tranh chấp với các nước hữu quan, kể cả trong vấn đề Biển Đông; sẵn sàng trao đổi và hợp tác với các bên hữu quan giải quyết các vấn đề nảy sinh, góp phần vào củng cố môi trường hòa bình và hợp tác trong khu vực.
5. Tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; nâng cao kiến thức về biên giới lãnh thổ, chủ quyền biển đảo quốc gia. Cần nhận thức rõ, sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nhiệm vụ lâu dài, phức tạp và toàn diện. Yêu cầu đặt ra là vừa bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, vừa duy trì và phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với các nước liên quan.
6. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực cơ hội, cực đoan, thù địch lợi dụng một số vấn đề chưa thống nhất về chủ quyền lãnh thổ giữa ta với Trung Quốc và với các nước liên quan để kích động chia rẽ quan hệ quốc tế của ta; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước tạ”
Song song với chiến dịch tuyên truyền miệng và trên các cơ quan báo chí của nhà nước, đảng CSVN còn bầy ra buổi hội thảo “Việt Nam - Trung Quốc, Biên giới hòa bình, hữu nghị” tại Hà Nội vào ngày 7-4 (2009).
Bản tin của Trung ương đảng khoe trong cuộc Hội thảo rằng việc hai nước đạt được thỏa hiệp về chủ quyền lãnh thổ là “Sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.”
Báo Điện tử của đảng viết : “ Việc hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai nước xác định được một đường biên giới rõ ràng trên đất liền với một hệ thống mốc giới hiện đại, đặt nền tảng vững chắc cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác và phát triển giữa hai nước, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Cùng với việc ký Hiệp định phận định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000, với việc hoàn thành phân giới cắm mốc (PGCM) đường biên giới trên bộ, đã giải quyết dứt điểm được hai trong ba vấn đề lớn do lịch sử để lại trong quan hệ Việt - Trung. Điều này chứng tỏ hai Đảng Cộng sản, hai Nhà nước Xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có đủ khả năng để giải quyết mọi bất đồng bằng biện pháp hòa bình; thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị và toàn diện giữa hai nước.”
Cùng ngày 7-4 tại Hà Nội, Cục Thông tin đối ngoại - Bộ Thông Tin và Truyền không còn phối hợp với Bảo tàng Biên phòng Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao và các tổ chức hữu quan tổ chức triển lãm có cùng tên là “Việt Nam-Trung Quốc, biên giới hòa bình, hữu nghị”.
Theo thông tin của nhà nước cuộc Triển lãm có 9 phần với gần 300 tư liệu, hiện vật, hình ảnh trình bầy về công tác phân giới cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Hoa cho đến ngày 31-12-2008.
Nhưng với tất cả những công sức và tiền của đổ vào công tác tuyên truyền để làm cho dân yên tâm nhà nước không cắt đất, nhượng biền có ích gì không, hay chỉ đổ thêm dầu vào lửa cho cháy bùng lên nỗi tức giận của dân đối với những kẻ điếc cầm quyền trước sức ép chiếm đất, lấn biển của Tầu phương Bắc ?
Nguyễn Tần Dũng Không Thèm Trả Lời Tướng Võ Nguyên Giáp
Phạm Trần