Khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Sô tan rã năm 1991 đã khiến Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu: Tái phối trí lực lượng quân sự tùy theo “national interest” đáp ứng nhu cầu chiến lược sau thời Chiến Tranh Lạnh là duy trì “nền trật tự thế giới mới” (new world order).
Từ đó, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất (đơn cực, unilateral superpower); tuy nhiên, hình thái chiến tranh thay đổi từ qui ước, trực tiếp đối đầu bằng quân sự nay chuyển sang “lùng và diệt” các nhóm khủng bố và quốc gia chứa chấp, huấn luyện khủng bố. Thêm vào đó, chiến lược “be bờ” (containment) của Hoa Kỳ nhằm “ngăn chận Cộng Sản bành trướng” trước kia nay “khai triển” (enlargement) thành “dân-chủ-hoá toàn cầụ” Chiến lược này giúp Hoa Kỳ tùy tiện trải rộng thế lực bằng cách bung lực lượng ra vừa truy diệt các nhóm khủng bố vừa tạo ảnh hưởng tại khắp nơi trên thế giớị HK đã liên kết chặt chẽ với Ấn Độ, Nhật Bản, Úc Châu đến hiện diện tại những vùng trước kia họ chưa có ảnh hưởng như Afghanistan, Pakistan ở Trung Á. Hành động quân sự đôi khi cũng gây thiệt hại cho người dân vô tội nên HK đã gặp những chống đối từ một số quốc gia độc tài, quân chủ chuyên chế vì muốn bảo vệ quyền lực và nội trị của mình. Mặt khác, một số cường quốc không muốn bị lép vế, đã gây trở ngại cho Hoa Kỳ khi tìm đủ cách giới hạn hoạt động nhằm quân bình lực quá mạnh của Hoa Kỳ nhằm tạo một thế giới “đa cực, multipolars.” Điển hình là Pháp, Đức, Nga ở Âu Châu; Trung Quốc ở Á Châu; Iran ở Trung Đông, v.v. mà dù HK có hảo ý đến đâu, họ cũng tìm cách chế ngự _ họ khó chấp nhận một thế giới đơn cực (unilateral) làm chủ bởi siêu cường Hoa Kỳ có hay không mang ý đồ độc chiếm thế giới “aggressive unilateralism” [1]. Ví dụ, trong thập niên 1990s, lo ngại HK và khối NATO dùng quân sự can thiệp vào nội bộ các nước trong vùng Balkans và thắt chặt liên minh, mở rộng tầm ảnh hưởng tại Á Châu, TQ và Nga Sô đã đồng ý hợp tác chiến lược song phương (strategic cooperative partnership) vào năm 1996. Từ đó, hai nước này ngày càng phát triển mối liên hệ và hợp tác chặt chẽ hơn để chế ngự Hoa Kỳ. Năm 2000, TC và Nga Sô lên tiếng phản đối HK dự định thiết lập Hệ Thống Lá Chắn Hỏa Tiễn (missile defense system) và bãi bỏ Hiệp Ước Cấm Hỏa Tiễn Liên Lục Địa (Anti Ballistic Mislles Treaty) [2]. Năm 1999, hai nước ký Hiệp Ước Giao Hảo và Hợp Tác (Treaty of Good-Neighborliness and Friendly Cooperation). Năm 2005, TQ và Nga Sô đã tổ chức cùng thao diễn quân đội một cách qui mô gồm 10,000 không, hải và lục quân với quân cụ, vũ khí tham dự. Một phân tích gia chiến lược cho hay: “Liên hệ an ninh tốt hơn với Nga Sô sẽ giúp TQ quân bình thế lực với ảnh hưởng Hoa Kỳ trong vùng” [3]. Tuy nhiên, khi Nga Sô còn đang tìm cách phục hồi kinh tế và thế đứng và Trung Quốc vẫn còn kém xa Hoa Kỳ về mọi mặt thì họ cố tránh xung đột, đối đầu quân sự trực tiếp với Hoa Kỳ.
Nói chung, TQ cố gắng quân bình thế lực với Hoa Kỳ qua nỗ lực song phương và vận dụng ngoại giao trên trường quốc tế; một mặt xử dụng lợi nhuận kinh tế để thẩm nhập và chi phối các nước họ nhắm đến; mặt khác, dùng các phương thức mềm mỏng ngoại giao kéo bè cánh (formation) chống Hoa Kỳ. TQ thiết lập liên hệ sâu đậm với Khối Liên Âu (EU, European Union) đặc biệt với Pháp, Anh và Đức [4] và thường mở những hội nghị thượng đỉnh với Liên Âu và cả hai đang trở nên đối tác kinh tế thương mãi lớn nhất của nhaụ Về hải quân, TQ cũng đã hợp tác thao dượt tìm kiếm và cấp cứu ngoài biển và trong tương lai sẽ trao đổi quân sự nhiều hơn với chiến hạm của Pháp và Anh. Mối liên hệ tốt đẹp này khiến Liên Âu quyết định tháo gỡ cấm vận vũ khí áp đặt lên TQ kể từ sau biến cố Thiên An Môn tháng 6 năm 1989 sẽ giúp TQ mua vũ khí tối tân nhất cho quân đội của họ. Các nhà phân tích Hoa Kỳ tin rằng: “TQ và Liên Âu đang tìm cách chế ngự sức mạnh và vị thế Hoa Kỳ, hoặc qua việc tạo nên một thế giới đa cực (multipolars) hay qua một thế lực gồm nhiều cường quốc” [5].
Ngoài việc hợp tác với các tổ chức lớn như EU, ASEAN và SCO (Shanghai Cooperation Organization), TQ cũng chú trọng vào chủ điểm thứ hai là trực tiếp thảo luận trong liên hệ song phương với Hoa Kỳ. TQ chọn cách hợp tác xây dựng chiến lược (contructive strategic partnership) với HK dưới thời Tổng Thống Bill Clinton năm 1997 thay vì theo đuổi chính sách đối kháng như một số tướng lãnh quân đội diều hâu đề nghị. Trong tư thế yếu, TQ cũng đạt được một thỏa thuận tương đối tốt nhất với siêu cường HK [6]. Với sự đồng thuận của các doanh thương Mỹ tìm thị trường khổng lồ tại Hoa lục, HK đã ban qui chế “tối huệ quốc” cho TQ mặc dù biến cố Thiên An Môn xảy ra năm 1989. Năm 2000, HK nới rộng bình thường hóa giao thương với TQ (PNTR, permanent normal trade relation) lót đường đưa TQ trở thành hội viên của WTO (World Trade Organization) khiến nền kinh tế TQ càng phát triển nhanh nhất thế giới trong suốt thập niên 1990s qua thập niên 2000s.
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA HOA KỲ
Hoa Kỳ biết rằng TQ cần gây dựng thực lực quân sự hỗ trợ bởi nền kinh tế bền vững nên TQ đã nỗ lực tìm liên minh và hâụ thuẫn chính trị trên trường quốc tế qua chính sách ngoại giao khôn khéọ Nhưng HK cũng nhận thức rằng một khi TQ trở nên hùng cường, thịnh vượng, họ sẽ từ bỏ “thế thủ” mà thực hiện tham vọng bá chủ Á Châu che dấu từ lâụ TQ sẽ chuyển sang chiến lược tấn công bằng cách bành trướng về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự để thiết lập ảnh hưởng tại Á Châu và trên thế giới [7]. Tất nhiên, TQ sẽ xử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp hay tiến chiếm những cứ điểm trọng yếu nhằm bảo vệ cho quyền lực của họ và chuẩn bị đối đầu với HK trong tương laị
Giá trị Biển Đông đối với HK ra sao?
Sự quan trọng của biển Đông đối với Hoa Kỳ chính là hải đạo huyết mạch vận chuyển không những cho các tàu dầu và thương thuyền từ Trung Đông, Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Đại Hàn và Trung Quốc qua eo biển Malaccạ Hơn nữa, HK còn dùng biển Đông như điểm chuyển vận và vùng hoạt động cho Hải Quân, Không Quân HK nối liền các căn cứ quân sự của họ ở Á Châu, Ấn Độ Dương và Vùng Vịnh Ba Tư. Hoa Kỳ cần duy trì sự tự do và an toàn cho hành lang chiến lược quan yếu gồm hải đạo, đường hàng không và liên lạc giữa các vùng quân sự nàỵ Hơn nữa, HK cũng cần bảo vệ cương vị siêu cường và bảo đảm an ninh cho các đồng minh của mình tại Á Châu, nên Hoa Kỳ sẽ xử dụng sức mạnh Hải Quân và Không Quân tầm xa để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình trong thế kỷ 21. Với sức mạnh của Hải và Không Quân hiện nay, trong vòng một thời gian ngắn, Hoa Kỳ có thể phá hủy hoặc làm tê liệt hai bàn đạp Trường Sa và Hoàng Sa trong trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của TQ một cách tương đối dễ dàng! Vì thế, quyền lợi sinh tử của Mỹ không nằm trực tiếp trong vùng Biển Đông! Tuy nhiên, tại Á Châu, TQ ngày càng mạnh, dù bề ngoài tỏ ra ôn hòa và tuyên bố việc tân trang quân đội chỉ nhắm mục tiêu phòng thủ nhưng tham vọng bá chủ Á Châu của TQ tỏ rõ khi tích cực tranh chấp vùng biển Đông. Vì thế, Robert Ross, một chiến lược gia Ngũ Giác Đài đã nói: “Nếu HK cho TQ cơ hội hất cẳng mình ra khỏi Á Châu, TQ sẽ nắm lấỵ HK không nên ảo tưởng rằng TQ sẽ giữ nguyên vị khi thế lực của họ tăng thêm” [8]. Chiến lược Biển Đông của HK thế nàỏ
HK áp dụng hai chiến lược “ngăn chặn” (containment) và “kèm giữ” (engagement). Trong chiến lược “kèm giữ,” HK sẽ dẫn dụ TQ giao tiếp bình thường hợp với lối hành xử của thế giới tiến bộ và giúp TQ dân-chủ-hóa đất nước qua các quan hệ chặt chẽ trong nhiều lãnh vực khác nhaụ Mục tiêu lâu dài là giúp TQ trở thành một quốc gia tự do, dân chủ và thịnh vượng để TQ có thể tự túc, tự cường và liên hệ thuận thảo với thế giới mà không đe dọa các nước dân chủ khác. Trái lại, với chiến lược “ngăn chận” HK sẽ tìm cách ngăn trở TQ bành trướng quân sự qua việc làm chậm độ phát triển kinh tế và trì trệ chương trình hiện-đại-hóa quân độị Cả hai chiến lược của HK đều có độ rủi ro và trở lực vì chiến lược “kèm giữ” có cơ nguy tạo nên một nước TQ hùng mạnh nuôi nhiều tham vọng; trong khi đó, chiến lược “ngăn chận” cũng khó thể thực hiện thành công [9]. Bởi lẽ, khó thuyết phục dân chúng HK đổ tài sản lớn lao ra để ngăn chận TQ bây giờ vì nguy cơ của TQ chưa lộ ra rõ ràng. Hơn nữa, vì tiềm năng quân sự của Hoa Kỳ vượt trội hơn bất cứ cường quốc nào trên thê giới hiện nay đến ít nhất là hơn một thập kỷ; do đó, chính sách và chiến lược lớn đối đầu với TQ của HK hiện nay trên thực tế kết hợp cả hai chiến lược nhằm hướng dẫn TQ trở thành một “cường quốc có trách nhiệm” (responsible stakeholder”); đồng thời, HK tăng cường thế liên minh của mình và tái phối trí quân lực để tăng hiệu năng quân sự và giảm thiểu sự thiệt hại khi chiến tranh xảy ra [10]. Đây là lý do HK đã thắt chặt hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ và tăng sức mạnh quân sự tại Trung Á và Á Châu - Thái Bình Dương. Với tiềm lực vượt trội đó, Hoa Kỳ có thể áp dụng chiến thuật “chờ xem” (wait and see) ý định và khả năng thật sự của TQ tiến triển ra sao để đối phó một cách thích hợp theo từng giai đoạn. Đây chính là ý định của HK hiện nay; cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy HK có thể áp dụng “chiến tranh kinh tế” nhằm triệt tiêu hoặc giảm thiểu độ phát triển kinh tế của TQ hoặc nếu nhận thấy TQ sắp trở thành một siêu cường Á Châu có hành động trực tiếp đồi đầu với mình, HK sẽ thay đổi chiến lược để đáp ứng với tình thế mới.

Một Hải Đoàn Đặc Nhiệm thuộc Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đang hải hành
Vì chú trọng vào việc xây dựng “trật tự thế giới mới trong thế chiến lược toàn cầu,” HK muốn giữ vị thế trung hòa về vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong vùng biển Đông, nên khuyến cáo các nước liên hệ tìm một giải pháp hòa bình lâu dài đặt căn bản trên Luật Quốc Tế về Biển như Hội Nghị LHQ Về Luật Biển (UN Convention on the Law of the Sea). Mục tiêu chính của Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông chỉ nhằm duy trì sự an toàn và tự do di chuyển trong hải phận quốc tế; đặc biệt, cho hải đạo huyết mạch vận chuyển của các tàu dầu, chiến hạm và thương thuyền từ Trung Đông và Ân Độ Dương qua eo biển Malacca tới Á Châụ Bất cứ một cuộc xung đột nào xảy ra trong vùng Biển Đông mà có thể đe dọa đến hành lang quân sự chiến lược này hoặc sự an ninh và quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ hay Nhật Bản sẽ được coi như xáo trộn đủ để HK đơn phương quyết định can thiệp. Vì thế, Hoa Kỳ có thể vĩnh viễn đứng ngoài vòng tranh chấp, nhưng cũng có thể nhảy vào vòng tranh chấp bất kỳ lúc nào tùy theo áp lực bên ngoài trên quyền lợi của họ trong vùng [11]. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng thông thương của thủy đạo qua eo biển Malacca hoặc cách ứng xử của Trung Cộng, và do đó, người Việt Nam không nên trông chờ Hoa Kỳ “cứu nguy” khi có xung đột với TQ. Vì vậy, qua những hoạt động từ khi rút lui khỏi Việt Nam năm 1973 đến nay, chúng ta nhận thấy Hoa Kỳ, bề ngoài, hình như chỉ chú trọng đến chiến lược toàn cầu của họ mà thiếu một chiến lược rõ rệt cho Vùng Biển Đông. Tuy nhiên, từ năm 2000, Hoa Kỳ đã chú ý nhiều đến sự gia tăng ngân sách quốc phòng nhằm phát triển và hiện đại hóa quân lực Trung Quốc, đặc biệt về Hải Quân. Các hoạt động của Hạm Đội Nam Hải tại Căn Cứ Hải Quân Tam Á đang trở thành mối lo ngại không những cho các quốc gia ASEAN trong vùng Biển Đông mà còn cho cả Hoa Kỳ khi càng ngày TQ càng tỏ ra hung hăng và nguy hiểm cho nền hoà bình thế giớị
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC
TQ áp dụng chính sách “hợp tác” (partnership) với quốc gia khác bằng cách tôn trọng văn hóa, ý thức hệ và interests khác biệt và tìm cách thuyết phục họ giúp TQ hóa giải những vấn đề mâu thuẫn hoặc tranh chấp. Việc này giúp TQ kéo thêm đồng minh, giúp nước hợp tác được thêm lợi nhuận kinh tế khi liên hệ song phương với TQ làm giảm ảnh hưởng mà tránh đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Với tư cách thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, năm 1999, TQ hợp tác với Nga Sô bỏ phiếu chống lại quyết định LHQ cho HK dẫn lực lượng LHQ can thiệp vào Kosovọ Năm 2003, TQ hợp với Nga Sô, Pháp và Đức phủ quyết LHQ cho phép HK đưa quân vào Iraq và TQ cũng phủ quyết đề nghị phong tỏa Bắc Hàn về vũ khí nguyên tử của HK [12]. Tại Trung Á, khi Hoa Kỳ đem quân vào lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan và đóng đồn tại đây thì TQ và Nga Sô cảm thấy bị đe dọa sườn phía Tây [13]. TQ mời Nga Sô và mấy nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan lập nên Shanghai Cooperation Organization (SCO) vào năm 2001 để đánh “3 ác quỷ” là sự phân rẽ, khủng bố và tôn giáo cực đoan. Chính SCO và các nước Trung Á này đã giúp tăng ảnh hưởng của TQ, bảo đảm nguồn tiếp tế năng lượng và ngăn chận những hoạt động chia rẽ trong vùng Hồi Giáo tỉnh Xinjiang của TQ và nhất là không để Hoa Kỳ tự do khống chế mọi hoạt động trong vùng hay trên thế giới [14]. Năm 2002, Chù Tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) khi thăm Iran đã công khai chống đối việc đóng quân Hoa Kỳ tại vùng Trung Á [29] và mời Iran gia nhập SCỌ Trong cuộc họp thượng đỉnh vào tháng 7 năm 2005, SCO đã tuyên bố đòi HK đưa ra dự trình rút quân khỏi lãnh thổ các nước thành viên SCO [15].
Đối với Đài Loan, TQ đã áp dụng chiến thuật ôn hòa “chậm mà chắc” từng bước thay đổi mối liên hệ thân tình với Đài Loan qua ngoại giao và giao thương. Trong khi đó, TQ vẫn phô trương sức mạnh quân sự tại eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) như một đe dọa để “vừa dọa đánh vừa đàm” và họ đã thành công đáng kể trong việc thay đổi dần tư duy và chủ trương “đòi độc lập” của đảo quốc nàỵ Đối với quốc tế, TQ có thể thuyết phục và tái khẳng định với hầu hết các quốc gia về ý thức “một nước Trung Hoa” (one-China) bất-khả-phân và tạo Đài Loan như một kẻ gây sự bất cứ khi nào tình trạng căng thẳng lại xảy ra giữa TQ và Đài Loan về eo biển Taiwan Straits [16]. Về vấn đề nguyên tử của Bắc Hàn, TQ cũng đóng một vai trò quan trọng khi bắt ép Bắc Hàn tham dự cuộc thương thuyết đa phương với HK nhằm giải giới vũ khí nguyên tử của BH để giảm thiểu cơ nguy một cuộc chiến toàn diện xảy ra tại biên giới TQ. Tháng 9 năm 2005, 6 thành viên trong cuộc thương thuyết đạt được quyết định chung; trong đó, BH đồng ý chấm dứt chương trình nguyên tử đổi lại bằng những quyền lợi về kinh tế, an ninh và năng lượng.
Như ta nhận thấy, TQ biết mình chưa phải là địch thủ của siêu cường HK, nên tạm thời dùng chiến lược “câu giờ” tránh đụng độ mà dồn nỗ lực phát triển kinh tế, hiện-đại-hóa quân đội; trong khi vẫn kéo vây cánh với các quốc gia khác nhằm chế ngự siêu cường Hoa Kỳ. Nghĩa là, TQ đang áp dụng chiến lược mà Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) gọi là: “vặn đèn xuống và chúng ta làm giàu trong bóng mờ” (“dim our lights and thrive in the shadow”), dịch rõ nghĩa hơn là “dấu khả năng của chúng ta và chờ thời” (“hide our capabilities and bide our time”) [17]. Trên thực tế, TQ đã tạo cho mình thế đứng khá vững và uy tín khá thuận lợi trên trường quốc tế với việc liên minh với Nga Sô, nguồn cung cấp 85% vũ khí hiện đại, với Iran, Venezuela nguồn cung cấp dầu hỏa dài hạn. Do đó, TQ tuy nuôi nhiều tham vọng nhưng tỏ ra rất dè dặt trong hành động đối với HK; dĩ nhiên, họ chẳng ngại ngùng chèn ép các nước nhược tiểu như VN để chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên của ta khi họ có thể làm được.
Giá trị Biển Đông đối với TQ ra sao?
Biển Đông được TQ coi như là một “ao nhà” một vùng biển có giá trị chiến lược về quân sự, kinh tế và năng lượng. TQ tuyên bố chủ quyền của họ trên hơn 75% diện tích biển Đông. TC đã chiếm toàn bộ Quần Đảo Hoàng Sa từ tay VNCH năm 1974. Năm 1988 đến nay, TQ chiếm thêm 8 đảo và bãi đá ngầm của VN và Đá Vành Khăn (Mischief Reef) của Philippines và đang lăm le chiếm đoạt toàn bộ Trường Sa, thiết lập trục Tam Á- Hoàng Sa-Trường Sa không những kiểm soát toàn vùng biển Đông, làm căn cứ bàn đạp tiến đến các quốc gia quanh vùng mà còn kiểm soát trung tâm khai thác dầu khí trong vùng biển Đông nữạ Trên bình diện quốc tế, các nhà chiến lược thế giới đều hiểu rằng hải trình chuyên chở dầu qua eo biển Malacca (Strait of Malacca) rất quan yếu và ngày càng trở nên một vùng căng thẳng. Mỗi năm, hơn 50,000 tàu chuyên chở dầu từ Trung Đông qua eo biển này để chuyển đến các quốc gia trên vòng đai Thái Bình Dương (Pacific Rim). Theo US Energy Information Administration, nếu eo biển Malacca bị phong tỏa tại khoảng giữa Singapore và Indonesia sẽ gây cho gần nửa số tàu dầu của thế giới phải thay đổi hải trình và đe dọa giòng cung cấp dầu hơn 15 triệu barrels mỗi ngày [18]. Do đó, sự hiện diện của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ rất cần thiết cho vùng Biển Đông nhằm duy trì an ninh, giòng cung cấp dầu hỏa và giúp kinh tế tăng trưởng cho các quốc gia trong vùng và Vòng Đai Thái Bình Dương. Nhiều nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng nếu Đệ Thất Hạm Đội HK kiểm soát Biển Đông hoặc phong tỏa eo biển Malacca thì sẽ gây nên vấn đề lớn cho Trung Quốc, không những đe dọa khả năng chiến đấu vì thiếu nhiên liệu mà còn phá hỏng chiến lược trở thành bá chủ Á Châu của họ. Thế nên, thật dễ hiểu, Trung Quốc đang lăm le chiếm đoạt và kiểm soát toàn vùng biển Đông phong phú tài nguyên dầu hỏa này vì thuận tiện mọi bề cho nhu cầu quân sự và năng lượng của họ. Chiếm dụng vùng dầu khí nằm ngay sát lục địa, không phải di chuyển qua eo biển yết hầu Malacca còn gì tốt hơn cho TQ?
Chiến lược Biển Ðông của Trung Quốc thế nào?
Tập trung vào 5 lãnh vực sau:
Thứ 1:Phát Triển Hạm Ðội Nam Hải Để Dùng Sức Mạnh Trấn Át Biển Đông
Năm 2000, TC đã hoàn tất xây dựng một căn cứ Hải Quân tối tân tại Tam Á (Sanya) tọa lạc ở mỏm cực Nam đảo Hải Nam. Tam Á là căn cứ hải quân thứ nhì của Trung Quốc cho tàu ngầm nguyên tử và là điểm xuất phát của Hạm Ðội Nam Hải có khả năng đối đầu với Hải Quân Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN trong vùng. Hiện nay (2009) hạm đội này bao gồm 2 hải đội tiềm thủy đĩnh, 2 hải đội khu trục hạm và nhiều hộ tống hạm với tổng số lên đến 50 tàu chiến. Theo các nguồn tin tình báo, Hạm Đội Nam Hải là hạm đội có nhiều tàu chiến nhất và được trang bị các chiến hạm hiện đại như loại khu trục hạm Kình Ngư 311 và tàu ngầm nguyên tử loại 094 đầu tiên của Hải Quân Trung Quốc. Hơn nữa, tất cả lực lượng thủy quân lục chiến và phần lớn tàu đổ bộ của Trung Quốc trực thuộc hạm đội này; có nghĩa là TQ dự trù nhu cầu lớn nhất cho lực lượng đổ bộ chính là vùng Biển Đông, giáp với đất liền Việt Nam và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có quân đội Việt Nam đồn trú. Năm 2005, TC đã mua chiến đấu cơ Sukhoi Su-33 của Nga để trang bị trên hàng không mẫu hạm Variag, 67 ngàn tấn mua lại của Ukraine (có thể chở được 18 Su-33 hay 25 Mig 29) cho nhu cầu huấn luyện và tăng cường kế hoạch “tiến ra đại dương” của Hải Quân. Tam Á sẽ trở thành căn cứ tiền phương nối trục Tam Á-Hoàng Sa-Trường Sa của Hạm Đội Nam Hải nhằm kiểm soát toàn vùng biển Đông.

Căn cứ Hải Quân tối tân Tam Á (Sanya) của TC tại mỏm cực Nam đảo Hải Nam.
Thứ 2: Kiểm Soát Toàn Vùng Biển Đông - Bảo Vệ Yếu Huyệt Malacca
Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc đã dẫn đến chương trình hiện-đại-hóa quân đội, đồng thời gia tăng các nhu cầu về tài nguyên, lương thực, và thể diện quốc giạ Trung Quốc thành lập nhiều căn cứ hải quân để triển dương sức mạnh, từ bờ phía Nam của Miến Điện, đến đá Vành Khăn tại Trường Sa, rồi Đảo Phú Lâm (Woody Island) tại Hoàng Sa, và Tam Á tại Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập cảng, khoảng 75% số lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc là từ những vùng chính trị bất ổn ở Trung Đông và Phi Châụ Họ phải vận chuyển bằng tàu thủy đến Trung Quốc qua nhiều hải trình xa xôi, mà hải trình huyết mạch qua eo biển Malacca có thể bị cắt đứt trong một cuộc khủng hoảng nào đó. Hồ Cẩm Đào nhiều lần nhắc tới mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông liên quan tới an ninh năng lượng chuyện vận qua "yếu huyệt Malaccạ”
Thứ 3: Áp Đặt Chủ Quyền Bằng Sức Mạnh Quân Sự
Trung Quốc hiện đang dùng sức mạnh quân sự để áp đặt chủ quyền lãnh thổ của mình trong toàn vùng Biển Đông trên các đối phương trong khu vực bằng chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để vừa đánh trống vừa ăn cướp” phân bua với thế giớị Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN như Việt Nam, Phillipine hay Malaysia đã khiến Trung Quốc “tự tung tự tác” bất chấp luật pháp quốc tế, tùy tiện vẽ lại bản đồ có lưỡi Rồng bao gọn toàn vùng Biển Đông. TQ đã bắn giết dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như áp lực các công ty dầu khí quốc tế phải rút khỏi Biển Đông nhằm phô trương sức mạnh cùng khả năng bảo vệ chủ quyền “áp đặt” của họ.

Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa với vùng lưỡi Rồng vạch màu đỏ, chiếm gần hết Biển Đông.
Thứ 4: Âm Thầm Xé Lẻ Và Triệt Tiêu Đối Kháng
Trung Quốc đang xử dụng chiến thuật “lấy thịt đè người” để lấn áp Việt Nam và các nước ASEAN. Thái độ và hành động nói trên của Trung Quốc đã gây thiệt hại cho kinh tế và đe doạ nền độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam. Thái độ và hành động ngang ngược đó chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà lại không dựa trên một cơ sở pháp lý nào của luật biển quốc tế và nguy hiểm hơn nữa, TQ đang thực hiện giấc mộng bá quyền, khi nhu khi cương từng bước theo lối “tầm ăn dâu” chiếm đoạt Biển Đông. Đầu tiên, TQ đã mở những cuộc tấn công quân sự quy mô nhỏ để lấn chiếm dần lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông như chiếm Hoàng Sa năm 1974, một số đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam vào năm 1988; hoặc đoạt Mischief Reef từ tay Philippine năm 1995. TQ cũng loại dần đối kháng từ các nước thuộc khối ASEAN liên hệ đến cuộc tranh chấp biển Đông bằng kinh tế và ngoại giao như tăng viện trợ, hợp tác kinh tế, tha nợ, v.v. Tuy nhiên, TQ khôn hơn, không cần xử dụng quân sự để bị mang tiếng là kẻ hiếu chiến mà dùng quyền lợi dẫn dụ với chiêu bài “hợp tác song phương” áp dụng “diễn biến hòa bình” để từng bước lấy được Biển Đông. Đây chính là lý do TQ kêu gọi “hợp tác khai thác Biển Đông” với Phi Luật Tân năm 1999 rồi với tay sai CSVN năm 2008 qua dự án 29 tỉ Mỹ kim; từ đó, Bắc Kinh mới có thể xé lẻ từng nước, gây nghi kỵ mất tình đoàn kết giữa các nước ASEAN để thủ lợi.

Bản đồ phân định lãnh hải theo UCLOS. Các vạch màu xanh lơ phân định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý ngoài hải phận 12 hải lý.
Thứ 5:Độc Quyền Thăm Dò và Khai Thác Dầu Khí Trong Vùng Biển Đông.
Đối với chính phủ Trung Quốc, thì chính sách năng lượng đã trở thành một bộ phận của chính sách đối ngoạị Hiện nay khoảng một nửa lượng dầu và khí đốt cần dùng của Trung Quốc phải lệ thuộc vào các nguồn cung cấp ở nước ngoàị Vì lý do bảo toàn năng lượng, Trung Quốc đã đặt ưu tiên cao cho việc dự trữ càng nhiều dầu hỏa và khí đốt mà họ có thể lấy được trong phạm vi lãnh thổ trên đất liền, các vùng biển ngoài khơi, hoặc càng gần nội địa càng tốt, bao gồm cả Nga Sô và miền Trung Á. Thế nên, bằng mọi cách, kể cả cấm nhập thị trường Hoa Lục, TQ sẽ không để các hãng dầu ngoại quốc dò tìm hoặc khai thác dầu trong vùng biển Đông. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và ExxonMobil ở vùng Thanh Long với lý do vùng này thuộc Quần Đảo Trường Sạ Năm 2007, Trung Quốc gây áp lực buộc British Petrolium ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỉ $US với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Các vùng Thanh Long, Mộc Tinh, Hải Thạch nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn [19]. Việc áp lực 3 công ty BP của Anh, ONGC của Ấn Ðộ và ExxonMobil của Hoa Kỳ trong thời gian vừa qua đã nói lên ý định độc chiếm biển Đông của TQ.
CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM
Có lẽ giải pháp cho những người Việt Nam yêu nước nằm trong các bài học ngàn đời của lịch sử: Trung Quốc là nước lớn nằm sát nách Việt Nam luôn nhòm ngó và muốn sát nhập nước ta vào lãnh thổ của họ. Khi Việt Nam hùng cường thì TQ hoà hoãn, khi VN suy yếu thì TC không ngần ngại thôn tính nước ta và TQ đã từng chiếm đoạt lãnh thổ và đô hộ Việt Nam gần 1000 năm.
Giá trị Biển Đông đối với Việt Nam ra sao?
Biển Đông là vùng biển chiến lược của VN, không những là vùng chứa nguồn lợi hải sản, dầu khí mà còn là vùng đệm cho an ninh quốc phòng về mặt phía Đông. Do đó, muốn bảo vệ Biển Đông, VN phải có một hải lực hùng hậu và hệ thống phòng thủ mà tầm ngắn nhất cũng phải là vòng cung phía Đông của trục Hoàng Sa-Trường Sa xuống đến Nam Côn Sơn. Mặt phía Tây của VN là hai nước yếu Lào và Cam Bốt, muốn tăng khả năng phòng thủ, VN phải liên kết với hai nước Đông Dương này; nếu không, TQ sẽ chẳng bỏ qua cơ hội chuyển một lộ quân xuống trấn dọc theo biên giới giữa ba nước Việt-Miên-Lào để vửa lợi dụng vùng biên giới làm căn cứ hậu cần an toàn, bao vây VN, hoặc từ đó, dễ dàng thọc nhưng mũi dùi đánh vào bất cứ cạnh sườn nào của nước ta rồi rút hoặc cắt nước ta thành nhiều đoạn nếu chiến tranh giữa TQ-VN xảy ra.
VN có căn bản pháp lý vững vàng về chủ quyền trên các hải đảo và thềm lục địa
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà theo luật quốc tế do Hội Nghị Liên Hiệp Quốc 1982 Về Biển quy định rõ rệt là những tài nguyên và hải sản "thuộc quốc gia ngay bên cạnh thềm lục địa đó." Trong khi Việt Nam trưng ra đủ chứng từ và tài liệu thuyết phục về quyền sở hữu trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Trung Quốc chỉ dựa vào một tấm bản đồ do họ tự vẽ lại để đòi tất cả Biển Đông thuộc về nước họ bất chấp luật Biển và đề nghị thương lượng tay đôi với các quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á để dễ bắt nạt.
Quyền lợi về dầu lửa ở Biển Đông. Những hòn đảo nhỏ không có giá trị nhiều nhưng vì có thể tàng trữ lượng dầu lửa lớn lao, giúp đất nước phồn vinh; cho nên, VN phải bảo vệ quyền lợi đó. Trữ lượng dầu hỏa nằm ở trong không những thềm lục địa mà còn ở vùng biển trên thềm lục địa gọi là vùng kinh tế đặc quyền, từ bờ lục địa ra đến 200 hải lý. Trước năm 1975, các hãng dầu ngoại quốc thăm dò tiềm năng dầu khí cho biết rằng ngoài khơi Việt Nam, nhiều nhất là vùng Trường Sa có trữ lượng dầu và khí đốt rất lớn. Cuộc thăm dò bởi Viện Nghiên Cứu Địa Dư Của Các Nước Ngoài của Nga Sô năm 1995 ước lượng có khoảng 6 tỉ barrel dầu trong đó có 70% là khí đốt trong vùng Trường Sạ Trong khi đó, TQ tuyên bố, biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ nhì” (the second Persian Gulf” và một số nhà chuyên môn của họ đã quả quyết rằng biển Đông có thể chứa đến 210 tỉ barrels dầu hỏa và hơi đốt [20].
Chiến lược hiện nay của CSVN thế nào?
Đối phó với cường quốc nhiều tham vọng phía Bắc, trên thực tế, vì VN quá yếu về cả quân sự, lẫn kinh tế, không dựa vào Nga Sô được nữa thì chỉ còn hai đường: dựa vào HK để cương quyết chống TQ thì phải thay đổi thể chế hoặc đi với TQ thì phải chịu phục tùng họ để bám quyền. Trong nước thì Đảng CSVN bị đaị khối dân tộc bất mãn chống đối, bên ngoài thì bị áp lực quốc tế, nên tập đoàn lãnh đạo CSVN tìm đủ cách kéo dài thời gian bám quyền bất kể đến quyền lợi quốc gia và sự tồn vong của dân Việt. Áp lực của Tây Phương thì CSVN chẳng sợ bao nhiêu vì còn có TQ chống lưng đàng saụ Thế nên, Đảng CSVN luôn chọn cách “đu giây” với cà TQ và HK để “nín thở qua sông” hưởng lợi; nhưng khổ nỗi, chính áp lực của TQ trên VN mới là nỗi lo triền miên của tập đoàn lãnh đạọ Vì HK thì ở xa mà TQ lại ở ngay bên cạnh, nên chúng ta thấy rằng VN do vì nhu nhược và vì cô độc nên hiện nay tỏ ra quy phục TQ để hầu được yên thân, nắm quyền càng lâu càng tôt. Do đó, trên mặt nổi, chúng ta nhận thấy chiến lược của VN có thể tóm gọn như sau:
1.Đu giây với TQ và HK chứ không thật tâm ngả về bên nào
Tập đoàn lãnh đạo CSVN không tin TQ nhưng sợ bị TQ thôn tính thì “mất cả chì lẫn chài” nên “bắt cá hai tay” nhằm hưởng lợi từ cả TQ và HK. Mặt khác, VN chỉ muốn lợi dụng HK và Tây Phương để tránh bị tẩy chay, mất nguồn đầu tư vào VN, mất lợi nhuận riêng của họ và quan trọng hơn, để làm đối trọng với TQ và họ ở giữa yên thân hơn, làm “ngư ông hưởng lợị” Nhưng chắc chắn là VN không thể qua mặt được TQ và cả HK; nên chi, cả 2 nước này cũng chỉ đãi bôi, giao thương với VN để cùng có lợi và “play games” với nhau mà thôị Nghĩa là, TQ đã nắm được thóp VN nên điều khiển con rối VN dễ dàng theo ý họ. TQ cho phép VN đi với HK một phần để lấy lợi nhuận mà họ cũng được hưởng lây, một phần để mở “van an toàn” cho dân bớt chống đối Nhà Nước CSVN, phần nữa TQ làm bộ hiếu hòa, thân hữu để chứng tỏ VN còn tự chủ dưới mắt người dân sẽ giúp CSVN tồn tại hầu tiếp tục làm tay sai cho TQ.
2.Tránh Đụng Độ và Chịu Lép Vế Với TQ Để Tồn Tại
Vì quá yếu, VN cảm thấy khó thể đương cự nổi TQ khi họ ra tay chiếm đoạt nước ta nên đành nhắm mắt đưa chân, cố tránh đụng độ trực tiếp về quân sự, để giảm thiểu thiệt hại, mất mát, hi sinh nhiều hơn. CSVN biết rằng HK không nuôi dã tâm chiếm đoạt VN; nhưng ngược lại, nguy cơ VN bị TQ nuốt gọn rất caọ Vì vậy, thế đu giây của CSVN đành nghiêng hơn 60% về TQ để an thân, làm giàu nương theo lời chỉ đạo của TQ, đàn áp dân Việt để củng cố địa vị, bám quyền hưởng thụ càng lâu càng tôt. Đây là lý do mà TQ ngày càng lấn lướt và chiếm đoạt lãnh hải, lãnh thổ và uy hiếp nước ta về mọi mặt từ quân sự, chính trị đến văn hoá, kinh tế. Thế nên, mặc dù HK có thật lòng muốn giúp đỡ VN chăng nữa mà với thái độ “khiếp nhược” đó thì khi gặp nạn, bị TQ xâm lăng chẳng hạn, VN cũng đừng mong HK sẽ tận tình can thiệp, yểm trợ hoặc nhập cuộc đánh TQ giùm họ khi hai nước chưa tạo được mối liên minh quân sự để có thể tin cậy nhau.
3.Dựa Vào TQ, Bám Quyền Bằng Bạo Lực
Về mặt công luận quốc tế, Trung Quốc tích cực tuyên truyền cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, mặc dù VN có chính nghĩa và vững vàng về mặt pháp lý, nhưng Việt Nam và các nước ASEAN tranh chấp ở Biển Đông không được quốc tế ủng hộ nhiều vì thiếu đoàn kết và yếu nỗ lực ngoại vận. VN sợ cứng rắn quá với TQ thì sẽ gẫy nên chấp nhận chính sách “chịu bẻ cong để không bị gẫy” chẳng dám phản kháng để tồn tại dưới áp lực TQ. Vì vậy, riêng Đảng CSVN thì họ chẳng sợ áp lực quốc tế bao nhiêu mà cũng chẳng ngại bị dân chúng lật đổ vì có TQ chống lưng và hệ thống công an bảo vệ. Tuy nhiên, với một cộng đồng hải ngoại đoàn kết, gây dựng được thực lực, tạo được uy tín đối với quốc tế và yểm trợ hữu hiệu cho quốc nội thì một cuộc cách mạng phế bỏ chế độ CSVN có cơ thành tựu.
Chiến lược hiện nay của CSVN có hữu hiệu, hoá giải được nguy cơ và tham vọng của TQ hay không? Chắc chắn là KHÔNG! Nó chỉ giúp tập đoàn lãnh đạo CSVN bám quyền mà thôi mà nguy hai cho cơ đồ VN khôn lường; vì rằng, càng ngày VN càng bị suy yếu, càng bị lệ thuộc nhiều hơn vào TQ về mọi mặt thì TQ sẽ chiếm VN chỉ là vấn đề thời gian, nếu toàn dân Việt chưa nhận thức được nguy cơ mất nước nàỵ.
Chiến lược thích hợp mà VN nên áp dụng để bảo vệ đất nước thế nào?
Thứ 1: Việt Nam Phải Có Tự Do, Dân Chủ Để Tạo Tình Đoàn Kết Dân tộc
Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thật sự “yêu nước, thương dân” thì có thể áp dụng chính chiến lược của TQ “che dấu khả năng của mình và chờ thời” để dùng “gậy ông đập lưng ông;” bên trong thì âm thầm xây dựng nội lực, thuận lòng dân, hợp mệnh Trời và bên ngoài thì theo đuổi chính sách đối ngoại mềm mỏng, sáng suốt, đặt quyền lợi đất nước trên hết. Nghĩa là ổn định xã hội bằng chính sách an dân hợp vương đạo, phát triển kinh tế để có đủ phương tiện hiện-đại-hoá quân lực, khôn khéo trên trường ngoại giao để tạo thế và lực thật sự của dân tộc nhờ vào lòng dân, sức người và sự yểm trợ của quốc tế.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy lý do thất bại của quân Nguyên trong kế hoạch dùng hải, lục quân xâm lăng Việt Nam vào cuối thế kỷ 13. Lúc bấy giờ, mặc dù quân Nguyên đã chiếm toàn Châu Á, cộng với nửa Châu Âu, nhưng đánh Việt Nam thì thất bại cả 3 lần vì nhà Trần phát huy tinh thần Diên Hồng để vận dụng được sức mạnh dân tộc một lòng chống giặc. Như vậy, chỉ một chính quyền thật sự “của dân, do dân, vì dân” và được lòng dân trong và ngoài nước mới có thể huy động đại-đoàn-kết dân tộc và tạo điều kiện xây dựng cho dân giầu, nước mạnh, đủ khả năng tự túc tự cường và bảo vệ đất nước mà thôi.
Thứ 2: Việt Nam Phải Xây Dựng Khả Năng Quốc Phòng
Trong nhiều năm qua, chính quyền Hà Nội đã duy trì quân đội theo mục tiêu chính trị để bảo vệ chế độ thay vì có khả năng bảo vệ đất nước. Việt Nam nên chú trọng vào những kế hoạch bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải một cách thực tế thích hợp với nhu cầu và khả năng quốc phòng. Việc phát triển quân đội mà Hải Quân Việt Nam tương lai, trước tiên, nên chú trọng vào xây dựng một hạm đội gồm nhiều chiến hạm hiện đại hạng nhẹ, hỏa lực mạnh, vận tốc nhanh, dễ xoay sở. Chống lại cuộc tấn công từ ngoài biển Đông vào thì HQVN nên tập trung vào các lãnh vực phòng thủ nhiều lớp: phòng thủ cận duyên, phòng thủ viễn duyên và phòng thủ chiến lược.
Hiện nay, các quốc gia đồng minh trong vùng từ Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðài Loan, không nhiều thì ít, đều phát triển quốc gia của mình với sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Để tạo thế gián chỉ (deterence) nhằm giảm thiểu rủi ro xung đột quân sự với Trung Quốc, Việt Nam cần tạo thực lực và có liên minh quân sự tốt đẹp với Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Trong tương lai gần, viễn tượng thành lập các Hải Đoàn Đặc Nhiệm gồm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu biển Đông chung với Việt Nam và ASEAN đặt căn cứ tại Cam Ranh là điều thực tế trước hành động bá quyền của TQ.

(VN mua 2 chiếc Gepard của Nga năm 2005).
Trung Quốc chỉ dám bắt nạt những nước nhỏ yếu với cấp lãnh đạo nhu nhược mà thôị Trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Hoa (East China Sea) với Nhật Bản, Trung Quốc đơn phương tiến hành thăm dò, khai thác dầu trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối viện cớ rằng hoạt động khai thác này sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng của đối phương và thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt Hải Quân Nhật Bản. Trước hành động lấn át của Trung Quốc, Nhật đã quyết định đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp vào tháng 7, 2004 để chuẩn bị thăm dò và khai thác cho phần mình. Đương nhiên, Trung Quốc quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứng chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế. Căng thẳng lên cao độ từ khoảng cuối 2003 - đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề [22]. Khi cả hai bên tỏ thái độ sẵn sàng đối đầu, nếu không muốn chiến tranh thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ). Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nàọ Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc phân chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Hoa đã được giữ vững.
Thứ 3: Việt Nam Cần Dựa Thế Liên Minh Quân Sự Để Đối Trọng Với TQ
Năm 1994, Trung Quốc khoán cho hãng Creston Energy Corporation của Hoa Kỳ thăm dò các lô khoan dầu Tư Thềm lục địa Biển Bắc được Toà Án Quốc Tế chia theo đường trung tuyến Chính 133, 134, 135 thuộc khu vực Huangan Baỵ Những lời tuyên bố cứng rắn của Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền dựa vào căn bản pháp lý kèm theo các hành động cương quyết đã khiến TQ phần nào chùn bước. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhiên liệu và cậy vào sức mạnh, TQ sẽ chẳng dễ gì bỏ qua mà đang tìm mọi cách chiếm đoạt hoặc thủ lợị Các nước thuộc khối ASEAN phải nhận thức được rằng sự an ninh của mỗi nước thành viện cũng như sự an ninh trong toàn vùng chỉ tốt hơn nếu mọi nước trong vùng Đông Nam Á cùng tham gia ASEAN và đoàn kết với nhau chống lại tham vọng bành trướng và ý đồ muốn nuốt gọn Biển Đông của TQ [21]. Điều này chưa xảy ra; nhưng trên thực tế, TQ đã thành công trong mục tiêu xé lẻ các nước ASEAN liên hệ đến tranh chấp trong biển Động. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc năm 1999 trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Sau đó, vào cuối năm 2008, VN xé lẻ hợp tác với TQ ký hợp đồng 29 tỉ $US cho TQ thăm dò và khai thác dầu khí, áp lực các công ty dầu khí của Anh, HK, Ấn Độ phải rút luị
Thứ 4: Đưa Vấn Đề Biển Đông Ra LHQ để Giải Quyết:
Tận dụng phương tiện truyền thông và đường lối ngoại giao, VN nên vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của các nước liên hệ trong vùng Biển Đông phải được đưa ra LHQ giải quyết càng sớm càng tốt cho VN. Đương nhiên, TQ sẽ bất-hợp-tác hoặc ngăn cản và với tư thế mạnh của TQ hiện nay, LHQ cũng vô hiệụ Trong thỏa thuận hợp tác khai thác dầu khí giữa Nhật Bản và Trung Quốc, hai bên đã cùng viện dẫn Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển, trong khi Nhật Bản cho rằng phải xử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc muốn dùng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới [23].
Cách giải thích của TQ hay của Nhật Bản đều đã có tiền lệ, vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc cũng đặt trên cơ sở vững vàng. Tuy nhiên, trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, TQ hoàn toàn tự tiện tuyên bố chủ quyền với bản đồ chủ quyền gồm đường viền “lưỡi Rồng” bao phủ gần trọn Biển Đông mà không có cơ sở pháp lý gì chứng thực. Bất kể đến Công Ứơc Geneva về Thềm Lục Địa 1958 và Công Ứơc Quốc Tế về Luật Biển 1982, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ và ý đồ bá chủ biển Đông ngày càng lộ rõ. Dù thế nào, VN cũng phải cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, khẳng định rõ ràng chủ quyền trên vùng lãnh thổ và lãnh hải trong vùng Biển Đông gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trước ngày 13 tháng 5 năm 2009. VN có lẽ sẽ đệ trình tài liệu xác định chủ quyền và thềm lục địa lên Liên Hiệp Quốc vào phút cuối để giảm thiểu phản ứng phẫn nộ của TQ. Nếu vì điều này mà gây nên tranh tụng với TQ, VN phải chủ động tạo nên một “case tố cáo TQ vi phạm chủ quyền, chiếm đoạt lãnh thổ lãnh hải của VN” thì đó là một điều tốt, và VN nên liên tục tố cáo để giữ vấn đề tranh chấp này sôi sục và trong vòng xử lý của LHQ.
(Xin xem tiếp Phần III: Biển Đông Nổi Sóng?)