Hiệp định Genève chia đôi đất nước mới ký kết xong, dân Hà Nội và nhất là những gia đình giầu có lũ lượt kéo nhau lên đường di cư vào Nam, Ủy Hội Quốc tế cho xe đến tận nhà đón đi, hàng ngày có mấy chục chuyến máy bay vận tải Dakota chở dân di cư ồ ạt đi Nam, tại Hải Phòng có tầu thủy khổng lồ của Mỹ chở người vào Nam bằng đường biển, kẻ ở người đi tiễn nhau nhộn nhịp. Đồ đạc rẻ như bèo, cái máy hát mới tinh có sáu trăm bạc mà trước kia phải hai nghìn, sách vở, tiểu thuyết, đĩa hátẦ bán đầy ra, dân Hà Nội bán tống bán táng đồ đạc để đi cho nhanh. Các anh tôi từ làng đạp xe lên Hà Nội, Hà Đông mua đĩa hát, tiểu thuyết, sách vở nào thơ nào nhạc, nào Cánh Hoa Trước Gió của Nguyễn Minh Lang, Quán Gió của Ngọc Giao.
Ở Hà Nội và Hà Đông tình hình ra đi thật là nhộn nhịp, nhưng ở làng thôn cuộc đời vẫn phẳng lặng y như mặt nước ao, hồ. Trước đó ít lâu, mấy ông quan hai, quan ba của tiểu đoàn Quốc Gia đóng tại nhà tôi có khuyên thầy mẹ tôi liệu thu xếp đi Nam, họ bảo không sống với Việt Minh được đâu, nhưng ở nhà quê dù là nhà giầu, địa chủ người ta đều thờ ơ với chuyện đi Nam vì chưa ai biết Việt Minh thế nào, thầy mẹ tôi cũng chỉ ừ hữ cho qua chuyện.
Ngày tháng cứ vùn vụt trôi nhanh, thấm thoắt Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội đã nửa năm qua, nhiều nhà giầu trong làng đã trốn lên Hà Nội đi Nam, họ đã được nếm mùi Việt Minh Cộng Sản. Họ hàng nhà tôi trên tỉnh cũng như ở nhà quê nhiều nhà đã đi Nam, thầy mẹ tôi lúc ấy mới quyết định di cư, nếu quyết định đi sớm thì cón bán được ít đất đai, ruộng nương bên kia sông, nay đi sau cùng chẳng đem được gì, nhưng trễ cũng còn hơn không.
Anh chị tôi đã đi trước, tôi và hai đứa em được chị tôi đưa ra quê ngoại ở dăm bẩy hôm để chờ đi lên Hà Đông. Nhân dịp đám cưới chị Loan con bác Cả, cậu tôi dẫn chúng tôi đến dự, đám cưới sang trọng văn minh lắm, hai chiếc ô tô đen ở Hà Đông đến, một cô mặc áo vàng xinh đẹp, thắt nơ xanh trên tóc bưng tráp bước vào, cô dâu, chú rể phù dâu, phù rể đẹp quá. Các cô mặc áo dài xanh, hồng đẹp quá! chú rể, phù rể, mặc com lê sang quá! văn minh quá! Chúng tôi bọn trẻ nhà quê cứ trố mắt ra nhìn, sao mà người ta văn minh lịch sự thế chứ!
Các bà chị, bà em của mẹ tôi ở lại hết chỉ có mình mẹ tôi đi Nam, các bác, các dì mỗi người giúp mẹ tôi một ít tiền để lên đường, tôi còn nhớ Bác Hai bảo chúng tôi:
- Tao hết lòng với gia đình chúng mày rồi đấy nhá!
Bác cho mẹ tôi một số tiền Việt Minh, nhà chị Loan khá giả có hiệu vàng ở Hà Đông cũng giúp đỡ mẹ tôi, nhà tôi đi sau cùng chẳng đem được gì, số tiền họ ngoại giúp đỡ thật đúng là một miếng khi đói. Buổi chiều hôm ra đi, cậu tôi tiễn chúng tôi ra cổng bảo các cháu vào Nam mai kia sẽ bỏ phiếu cho chúng nó, ý cậu muốn nói bỏ phiếu cho Quốc Gia trong cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền, nhưng cuộc bầu cử ấy không bao giờ có! Cậu tôi chúc chúng tôi lên đường may mắn, chúng tôi vừa đi vừa ngoảnh nhìn lại mãi cho đến khi bóng cậu khuất sau mấy bụi chuối mới thôi! Ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy !
Thế là chúng tôi đã bước ra khỏi lũy tre xanh mãi mãi không bao giờ còn quay trở lại, chúng tôi lên Hà Đông rồi đi tầu điện ra Hà Nội, sáng hôm sau đi xe hỏa xuống Hải Phòng, khoảng một tuần sau thầy mẹ và anh tôi cũng đến nơi, thế là gia đình tôi đã thoát nạn! nếu không chỉ một năm sau là tan xương nát thịt vì đấu tố rồi!
Chúng tôi đi tầu thủy vào Sài Gòn, chính phủ phát cho mỗi người tám trăm, tất cả vốn liếng nhà tôi chỉ có chút tiền đem theo và tiền trợ cấp! Gia đình tôi không quen cuộc sống phấn đấu nên những năm đầu vất vả lắm, nhà nghèo nhưng chúng tôi cũng được đi học, thật là may thay tôi lại thi đỗ vào trường trung học công lập ở Tân Định chứ không thì tiền đâu mà đóng học phí.
Hồi ấy hai miền Nam Bắc vẫn được viết thư qua sự chuyển giao của Ủy Hội Quốc Tế, nhưng phiếu để viết ngắn lắm chỉ thông báo được một ít tin và vài hàng hỏi thăm tức sơ sài thôi. Một hôm ông giáo sư Pháp văn cho biết Ủy Hội Quốc Tế cho học sinh được đặc biệt viết thư dài hai trang để chuyển về cho thân nhân bà con ở ngoài Bắc, tôi và anh tôi có viết thư hỏi thăm cậu tôi ở quê ngoại, nhưng không thấy trả lời gì.
Thời gian thấm thoắt như thoi đưa, tôi đã lên đại học được vài năm, sau cuộc đảo chính 1963 tôi đi dạy tại một trường trung học ở trên cao nguyên, cũng gần Sài Gòn, vừa làm vừa học tiếp. Hồi ấy tôi hay viết thư ra Bắc thăm hỏi một chú em con bà gì ở Hà Nội, chúng tôi thăm hỏi qua lại nhưng cũng chỉ được viết vắn tắt, bức cuối cùng tôi có viết:
Ước mong ngày nào đất nước thanh bình dể anh em mình được gặp lại nhaụ..
Chẳng bao lâu chiến sự ngày càng tàn khốc, Ủy Hội Quốc Tế bị giải tán, hai bên Nam Bắc mất liên lạc luôn, nhà tôi cũng như những gia đình di cư khác cứ yên chí rằng không bao giờ còn được liên lạc với miền Bắc vì tình hình ngày càng gay cấn, hai miền nay coi nhau như kẻ tử thù. Thế nhưng ai có ngờ đâu, Mỹ rút quân bỏ miền Nam, Cộng Sản thừa cơ nước đục thả câu, xua quân chiếm hết. Sau ngày 30 tháng 4 hai miền liên lạc với nhau bằng thư từ ngay, tôi bỗng nhận được thư của chú em con bà gì ở Hà Nội, chú ấy viết:
"Tấm thiệp cuối cùng gửi cho em anh có viết: ước mong ngày nào đất nước thanh bình để anh em mình được gặp lại nhau, mà bây gìờ đất nước đã thống nhất, thanh bình anh em mình sẽ được gặp nhaụ"
Nhưng trớ trêu thay, từ ngày nhận được thư của chú ấy đến nay đã gần ba chục năm qua tôi vẫn chưa gặp được chú ấy, tất cả chỉ là sáo ngữ! Sau 30 tháng 4 -1975 một tháng tôi phải đi cải tạo vì hồi Mậu Thân tôi đã bỏ nghề giáo sang học ngành hành chánh, rồi ra làm công chức cho chính phủ. Tôi cải tạo được một năm tại Long Khánh thì gia đình lên thăm lần đầu, mẹ tôi, anh chị và các cháu tôi gánh đồ lên cho tôi, hôm ấy chị tôi nói:
- Bà con họ hàng ngoài Bắc có vào Nam thăm nhà ta! Họ nói ngoài Bắc bây giờ khổ lắm, bây giờ còn khổ hơn hồi di cư 1954...
Nghe chị nói tôi thấy thật là chán mớ đời! Ối giờ đất ơi! mấy chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa mà chưa bằng hồi năm 1954 thì biết đến cái kiếp nào người ta mới được cơm no áo ấm! Chị tôi lại nói:
- Họ vào nhà ta, họ thấy nhà mình nghèo họ cũng thất vọng, họ cứ tưởng mình theo "Ngụy" mình phải khá! mà bây giờ còn có ai khá đâu?
Từ ngày Cộng sản vào chiếm đóng miền Nam đến nay, cuộc sống hoàn toàn đảo lộn, đất nước tan hoang, ai nấy lo âu trằn trọc ngày đêm, ruột gan thì khô héo y như bầu đứt dây vậy. Nào phường khóm tối ngày thúc dục đi kinh tế mới, nhà nào cũng phải è cổ nuôi tù cải tạo, nào đồ đạc trong nhà bán hết đi ăn dần rồi không biết mai kia lấy gì mà bán, trước mắt chỉ là một viễn tượng đen tối như đêm ba mươi tết, ngổn ngang trăm mối bên lòng! Ai còn đâu tâm trí để nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ bên trong lũy tre xanh ngày xửa ngày xưa? Còn đâu những ngày tiễn đưa thắm thiết hồi di cư năm nào? Còn đâu những ngày chia tay bịn rịn kẻ Bắc người Nam? Những ngày tiễn đưa nhau ra mãi tận đầu thôn? Cách mặt thì xa lòng, tình xưa nghĩa cũ nay đã theo bước chân di cư ngàn dặm ra đi từ hai chục năm qua rồi còn đâu? Cái tình đằm thắm trong dĩ vãng xa xưa đã phai nhạt theo thời gian nay còn đâủ ai cũng chết dở cả, ruột gan thì rối bời như tơ vò còn bụng dạ nào mà nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ?
... Thế rồi những năm tù cứ lặng lẽ trôi qua, chừng nửa năm hay có khi vài tháng lại có thăm nuôi, mỗi lần thăm nuôi anh em vui mừng gặp người nhà và có quà cáp, đùi gà má lợn. Nhưng khi nghe tin gia đình ngoài xã hội ai cũng thấy xót xa như muối đổ trong lòng: nào anh, em, vợ con... đi vượt biên bị bắt, bị lừa, bị cướp nó hiếp, nó giết!... nào bị chính quyền đuổi nhà phải đi ở nhờ...
Tôi chức vụ cũng nhỏ thôi mà tù cũng khá lâu, khi được thả về thấy Sài Gòn đã hoàn toàn đổi khác, đường phố tấp nập trong sự nghèo nàn, đa số là xe đạp, chỉ có một ít xe gắn máy và ít xe hơi của bọn thống trị, họ hưởng đủ cả, xe hơi, nhà lầu, gái đẹp... Khoảng chín mười giờ đêm là đường xá đã vắng tanh vắng ngắt, ấy thế mà người nhà bảo tôi:
- Bây giờ còn đỡ hơn mấy năm trước hồi năm 1977, 78. Nó mới cho gửi đồ mấy năm nay trông còn đỡ hơn một tí đấy!
Bà cụ bị bệnh mất, tôi thử thời vận đi một chuyến thì bị bắt ngay, người ta nói có tang không đi được, có mất mát một ít tiền "tắc xi" thôi. Từ đấy dở ông dở thằng, chẳng tìm được việc gì cả, ăn nhờ vào tiền viện trợ của thân nhân ở bên Mỹ gửi về. Hồi ấy đa số các gia đình ở Sài Gòn trông vào các thùng đồ ở ngoại quốc, nhất là ở Mỹ. Nhà nhiều thân nhân ở ngoại quốc thì lãnh thùng to, nhà ít người thùng bé như nhà tôi. Những thùng đồ tình nghĩa bồng bềnh trên các con tầu vượt đại dương đã cứu sống bao nhiêu người khỏi cảnh đói khát và lầm than cơ cực, nhưng nó cũng gây lên nhiều chuyện bất hòa xích mích, cãi nhau đánh nhau bể đầu sứt tai vì phần to phần bé!
Hồi ấy chỉ có bọn thống trị là giầu có, ăn trên ngồi chốc, kế đến những người giỏi mánh mung buôn bán ngoài chợ trời, còn đa số sống nhờ những thùng đồ hoặc tay làm hàm nhai, đầu tắt mặt tối may ra mới đủ bỏ vào mồm. Mấy năm sau tôi tìm được việc làm thơ ký cho một cơ sở tư, đi làm cho công an khu vực nó khỏi để ý chứ kỳ thực lương chỉ đủ uống nước mía, nước dừa, hay ăn gói xôi thôi, tựu chung vẫn là trông vào ngoại viện.
Một hôm vừa về đến nhà, chị tôi vội kể cho tôi nghe chuyện lạ:
- Chị Loan nhà bác Cả ở ngoài Bắc vào chơi, sáng nay ghé nhà ta, bà ấy có nhắc chuyện ngày xưa di cư bà ấy có giúp nhà ta một chỉ vàng, hình như bà ấy bị thần kinh, kể đến đấy tự nhiên bà ấy khóc như mưa như gió ấy! Bà ấy nói bà ấy chỉ kể lại thôi chứ không có ý gì cả! Chắc người ta thấy mình nghèo thế này người ta đòi mình làm gì? tự nhiên bà ấy bảo làm mất tùi tiền, nhà ta ai cũng hoảng sợ, một lúc sau bà ấy mới nhớ ra bỏ quên ở nhà bà con ở gần đây! Hú vía!
Tôi nghĩ một lúc rồi nhớ ra ngay, hồi di cư cậu tôi có dẫn chúng tôi lại nhà dự đám cưới chị đã ba mươi mấy năm qua, hồi ấy chị còn là một cô gái yêu kiều diễm lệ trong chiếc áo dài cô dâu tha thướt, tôi nhớ ra chị ngay, tôi chỉ nghe nói gia đình chị có giúp nhà tôi, nhưng không biết là bao nhiêu, nay tôi mới biết là một chỉ vàng. Tôi cũng nghĩ như chị tôi, chắc chị Loan chỉ nhắc lại chuyện xưa thôi chứ không có ý đòi, nhưng tôi không hiểu sao chị lại khóc như mưa như gió? Hay tại nhà mình không hỏi han gì đến chị ấy chăng? Chắc chị không có ý đòi vì đã giúp đỡ nhà tôi, giúp có nghĩa là cho, mà cho thì đâu có đòi được, trừ khi cho vay mới đòi được, mà tại sao chị lại nhắc chuyện xưả làm ơn không nên nhớ! Mà chịu ơn cũng chớ nên quên!.. tôi cứ ưu tư mãi không nguôi.
Tôi cũng định bàn với chị tôi thu xếp cố gắng trả lại cho chị Loan, có lẽ bây giờ gia cảnh chị không bằng ngày xưa. Nhưng há miệng mắc quai, tôi bây giờ cũng chỉ là kẻ ăn bám vào mấy thùng đồ, nói là đi làm cho vui thôi chứ lương lậu cả năm chưa mua được cái áo, cái quần! đủ tiền uống nước mía, ăn gói xôi là cùng! Tôi lại thôi không bàn đến, yên lặng bỏ qua đi cho nó được việc nhà nước! Sự thực nhà tôi nay cũng chẳng có ai làm ra tiền, mọi chi tiêu trong gia đình chỉ trông vào mấy thùng đồ ở Mỹ gửi về.
Tôi cũng như muôn ngàn người khác chỉ ngồi chờ thời để đi Mỹ, khấn ngày khấn đêm cho mau đi Mỹ. Cái gì phải đến đã đến, một hôm đi làm về tự nhiên chị tôi đưa tôi xem thư của Sở Ngoại Vụ, mở ra xem thấy giấy mời sơ vấn! Cuộc đời lên hương rồi! Tôi chạy đem khoe bạn bè cùng cả, ai cũng mừng cho tôi!
Tôi đi sơ vấn, rồi phỏng vấn. Hôm phỏng vấn, người Mỹ của phái đoàn nhập cư lấy làm lạ tại sao tôi làm công chức hành chánh mà cũng cải tạo lâu thế. Trải qua bao nhiêu thủ tục khám sức khỏe, giấy tờ, gửi hành lý tại phi trường, đi chào bà con bạn bè rồi lên đường, ngoài thân nhân ra, chừng mươi người bạn cũ cũng lên phi trường tiễn tôi để mừng cho tôi và cũng để gặp tôi lần cuối cùng vì họ biết tôi không có ý định trở về.
Hôm ấy tôi cho là ngày quan trọng nhất cuộc đời tôi cũng như ngày tôi được trả tự do từ trại tù cải tạo, đó là hai ngày quan trọng nhất trong cuộc đời tôi: một ngày tôi ra khỏi hàng rào kẽm gai của trại giam, còn ngày kia tôi ra khỏi nước hoàn toàn tự do không còn thấp thỏm sợ bị chúng nó bắt lại! Lúc đang ở phòng đợi, một anh bạn cũ cười đùa bảo:
- Mày có cần một nắm đất quê hương tao lấy cho mày một miếng?
Tôi xua tay bảo:
- Chán ngấy đến tận cổ rồi!
Lúc làm thủ tục xong, tôi và một ông cựu Chuẩn Tướng Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đi ra phi trường sau cùng, đến trạm chót anh công an xét giấy rồi hỏi ông chuẩn tướng:
- Ngày xưa ông làm gì?
-Ngày xưa tôi làm chuẩn tướng!
- Làm chuẩn tướng cũng hét ra lửa đấy nhỉ?
- Dạ! bây giờ đã có người khác hét giùm!
Rồi ông nhìn tôi mỉm cười ý nhị! Họ vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi đi, ông tướng đi nhanh thoăn thoắt còn tôi cứ thủng thẳng đi, nhìn lên căn nhà lầu thấy thân nhân tôi và hàng mấy trăm người đưa tiễn kẻ ra đi đang vẫy chào mừng cho những người may mắn!
Tôi lên máy bay sau cùng, đứng ở cửa tôi quay lại vẫy tay lần cuối, tôi thấy hai ba người bạn, bốn năm người thân nhân tôi đang vẫy tay hoặc dơ dù lên cao chào tôi lần cuốị Ôi cái cảnh biệt ly sao mà thấm thía như thế! tôi không bao giờ quên được giây phút xúc động dạt dào ấy! Tôi bước vào máy bay trong lòng lâng lâng sung sướng vì biết rằng từ nay mình đã hoàn toàn tự do y như mười năm trước đây tôi đã ra khỏi hàng rào kẽm gai của trại tù Cộng sản, những hàng rào kẽm gai ghê rợn đã ám ảnh tôi bấy lâu nay không bao giờ còn vương vấn trong tâm trí tôi nữa.
Vào Mỹ gặp lúc kinh tế đang xuống dốc, thất nghiệp đầy cả ra, tôi phải vật lộn với cuộc sống chẳng còn tâm trí mà nghĩ đến quê nhà, được vài năm tôi có gửi tiền giúp đỡ thân nhân, sau này có nhờ người nhà gửi cho cậu tôi ở ngoài Bắc chút quà, nhưng không nhớ gì đến quê hương, vì nghĩ đến thấy nó chán ngấy y như ăn cơm với thịt mỡ vậy! cái chế độ đã làm cho tôi chán lây sang đất nước.
Bỗng một hôm, thân nhân tôi gửi thư sang, nhân dịp bước sang thiên niên kỷ mới họ đi du lịch và cũng là để thăm họ hàng ngoài Bắc, họ kể chuyện đi chơi Hà Đông, Hà Nội, làng ta, quê ngoại. Bức thư tự nhiên khiến tôi nhớ lại Hà Đông, Hà Nội, nhớ ngày nào cậu tôi tiễn chúng tôi bước chân ra đi khỏi lũy tre xanh, nhớ cả những ngày đi ăn đám cưới chị Loan với cậụ.. tôi cũng nhớ lại ngày chị vào Sài Gòn đến thăm gia đình tôi, chị đã khóc như mưa như gió!.. và nhất là tôi nhớ lại một chỉ vàng! Một Chỉ Vàng mà chị đã giúp gia đình tôi lúc chúng tôi cất bước ra đi tìm tự do tại miền Nam nước Việt hồi di cư năm nàọ..
Ngay hôm sau tôi vội đến Dịch Vụ gửi một trăm về cho thân nhân tôi ở Sài Gòn để họ tìm cách chuyển ra Bắc cho chị Loan, tôi cũng nhắc người nhà nói là gửi tiền để đền ơn chị đã giúp đỡ gia đình chúng tôi hồi di cư trước đây, mặc dù là để đền ơn nhưng trong lòng tôi cũng muốn giải quyết cho xong một sự áy náy đã day dứt tôi bao lần trước đây khi nghe tin chị đã khóc như mưa như gió hôm nào.
Thế là bốn mươi lăm năm trước đây, một chỉ vàng từ bàn tay chị chui vào túi mẹ tôi, nó đã giúp cho gia đình tôi được biết bao nhiêu lợi ích, nó đã lưu hành thiên sơn vạn thủy, giúp được bao lợi ích cho những người khác nay lại quay trở về tay chị, chắc khi ấy chị sẽ nở một nụ cười.
Trọng Đạt