Hệ thống trường Ðại học ở châu Âu là một trong những định chế giáo dục lâu đời nhất trên thế giới. Chúng xuất hiện cách đây hàng bảy tám trăm năm và đến nay vẫn là cơ sở giáo dục hàng đầu trên hành tinh của chúng ta.
Gần đây, một mô hình mới lạ và hấp dẫn được thành hình tại những trường Ðại học này. Ðó là những khóa học ngắn ngày dành cho du khách đến châu Âu vừa để tham quan, vừa học hỏi những nét đặc sắc trong nền văn hóa của nước chủ nhà.
Trước thế kỷ XII, tại châu Âu chưa có một hệ thống trường Ðại học với những chức năng như ngày nay. Một thanh niên muốn rèn luyện về trí thức sẽ có rất ít cơ hội lựa chọn. Họ chỉ có thể được thu nhận vào những trường học đông đúc liên kết hoạt động với một tu viện hay một nhà thờ nào đó hoặc phải đến một thành phố xa xôi, tìm tới một ông thầy nổi tiếng để thụ giáo. Thời ấy, đời sống của người thầy không ổn định, không có gì bảo đảm là các khoản học phí được thanh toán đầy đủ cho họ.
Chính trong bối cảnh đó mà một hệ thống những Trường Ðại học đã ra đời tại châu Âu vào thế kỷ XII. Các hội đoàn sinh viên và giáo chức cũng thành hình cùng với những lớp học chính quy, chế độ học phí, các điều kiện nhập học, bằng cấp... Cơ cấu này không khác mấy so với những gì chúng ta thấy ngày nay và đã sớm được các quốc gia khác trên thế giới mô phỏng cho nền giáo dục của họ. Trong thế kỷ XII, có 11 trường Ðại học được thành lập tại Ý, 5 tại Pháp, 2 tại Anh và 5 tại Tây Ban Nha. Ðức phải đợi đến thế kỷ XIII mới thành hình được 5 trường Ðại học, còn ở Scotland, phải đến thế kỷ XV mới có một hệ thống giáo dục đại học. Ngôn ngữ xử dụng trong nền giáo dục cao đẳng ở châu Âu thời Trung cổ vẫn là tiếng La Tinh. Sinh viên phải trải qua 4 hay 5 năm học tập với những “môn học tự do” như tu từ học, siêu hình học, đạo đức học, hình học, thiên văn học và âm nhạc. Sau khi lấy bằng cử nhân (Bachelor) họ tiếp tục học thêm khoảng ba năm để lấy bằng thạc sĩ (Master). Ðể được cấp bằng tiến sĩ, họ phải có kinh nghiệm dạy học và học trong 7 hay 8 năm.
Về mặt lý thuyết, những trường Ðại học đầu tiên ở châu Âu độc lập với quyền của Giáo hoàng, nhưng trên thực tế, giáo hội vẫn bám sát mọi hoạt động của những trường này và không ngần ngại can thiệp vào một khi giáo quyền nhận thấy có hơi hướm của hiện tượng “trái đạo”. Vào thế kỷ thứ XIV, các trường đại học ở châu Âu được sự bảo trợ của Giáo hoàng nên phải dạy môn thần học và lãnh trách nhiệm ngăn chặn bất cứ tư tưởng dị giáo nào có thể phát sinh trong trường học. Ðến thế kỷ XV, thần học và triết học tiếp tục giữ địa vị ưu thế so với bộ môn khoa học.
Tại Pháp, thời Trung cổ, hệ thống trường Ðại học Paris được thành lập năm 1170 và có uy tín nhất trong số các trường đại học ở châu Âu. Ðại học Sorbonne hiện nay là một phần của hệ thống trường đại học Paris lúc đó được thành lập năm 1257. “Giáo trình về ngôn ngữ và nền văn minh Pháp” của trường đã thu hút một số đông người nước ngoài đến thăm viếng Paris. Trường mở ra những lớp dạy về nền văn minh Pháp và dạy tiếng Pháp như một ngoại ngữ trong những học kỳ mùa Thu, mùa Xuân và mùa Hè. Sinh viên có thể chọn những giáo trình kéo dài 4, 6 hay 8 tuần hoặc một giáo trình cấp tốc 11 tuần lễ với 25 giờ lên lớp mỗi tuần.
Những du khách đựơc thu nhận vào các khóa học trên sẽ tham gia các cuộc hội thảo với chủ đề văn học, lịch sử tư tưởng, nghệ thuật và mỹ thuật, lịch sử tổng quát, các vấn đề kinh tế và xã hội... Những chương trình học đặc biệt dài 6 tuần lễ dành cho giáo viên dạy môn tiếng Pháp và những khóa học về ngôn ngữ thương mại cũng được tổ chức tại Sorbonne.
Ở Pháp còn có phân khoa y khoa nổi tiếng của Ðại học Montpellier, thành lập năm 1222, hoạt động song hành với các phân khoa nghệ thuật và luật khoa. Một sắc lệïnh do Giáo Hoàng Nicola IV ban hành năm 1289 kết hợp ba phân khoa này lại thành ra đại học Montpellier. Ðến đầu thế kỷ XV, phân khoa thần học được thành lập và năm 1808, hoàng đế Napoléon I thành lập phân khoa khoa học, ngày nay trở thành đại học Montpellier II. Năm 1970, đại học Montpellier chia thành ba trường tách biệt nhau. Ngày nay, trường Montpellier III đang sẵn sàng tiếp nhận sinh viên nước ngoài đến học về ngôn ngữ và văn chương Pháp. Trường mang tên văn hào Pháp Paul Valery, người đã từng mài đũng quần trên ghế trường Montpellier xa xưa.
Tại Anh, tiếng tăm đổ dồn về Ðại học Oxford, thành lập vào thế kỷ XII là một trung tâm giảng dạy về toán học, khoa học và triết học. Ngày nay, hệ thống trường Oxford có đến 35 trường hoạt động độc lập với 1,500 giáo viên và 13,000 sinh viên. Trường dành cho du khách đến Anh những khóa học mùa Hè kéo dài một tuần lễ mỗi khóa, giảng về nhiều đề tài khác nhau. Ðối với những người say mê môn lịch sử, có các tác phẩm của Winston Churchill : Một cuộc đời chính trị 1900-1955; Cuộc nội chiến ở Oxford và Oxfordshire; Trường Ðại học Oxford thời Trung cổ; Chế độ Quân chủ Anh từ năm 1760; Vụ mưu sát ở Oxford...
Những ai thích văn chương có thể theo dõi những bài giảng về nhà hát đương đại; Shakespeare và ý niệm về nước Ý; Oxford và tiểu thuyết...
Về nghệ thuật, các lớp học mùa Hè, có thể cung cấp trí thức về bộ mặt nước Anh vào thế kỷ XVII như những đề tài : William Morris; Những họa sĩ nữ từ thời Phục Hưng đến trường phái ấn tượng; Nghệ thuật điện ảnh; Nghệ thuật âm nhạc; Những kho tàng ở Oxford...
Cuối cùng, những du khách say mê khảo cổ học có thể đắm mình trong những hoài niệm về khảo cổ học ở nước Anh thời Ðế quốc La Mã; Nguồn gốc loài người; Lịch sử những khu vườn Anh Quốc...
Những lớp học kể trên, là những cuộc hội thảo nho nhỏ tổ chức vào buổi sáng, bao gồm các cuộc du hành, đọc sách hay hoạt động xã hội. Chi phí cho một khóa học ngắn ngày kể cả cư trú vào khoảng 430 bảng Anh. Riêng những sinh viên ở ngoài khu vực Liên minh châu Âu (EU) phải đóng thêm khoản lệ phí bổ sung 75 bảng Anh.
Ngoài ra, những khóa học cấp tốc kéo dài ba tuần lễ về lịch sử, chính trị, xã hội học của Anh và châu Âu, chương trình học về văn học Anh, về luật quốc tế nhân quyền. .. cũng được tổ chức kết hợp với Ðại học George Washington.
Rời nước Anh, du khách đến Ý, có thể tìm thấy những điều hay ở đại học Bologne, thành lập vào thế kỷ XI, được xem là cơ sở giáo dục cổ nhất châu Âu. Với số lượng sinh viên lên đến 59,000 người, Ðại học Bologne tiếp tục khẳng định là một trong những trung tâm giáo dục đại học quan trọng nhất ở Ý. Trường tham gia vào các chương trình Erasmus và Tempus của EU và mở những khóa dạy tiếng Ý cho người nước ngoài. Ở Bologne, các du khách có thể theo học những lớp học chính quy về ngoại ngữ, âm nhạc, văn chương, khảo cổ học, lịch sử, hoặc tham gia vào những dự án nghiên cứu khoa học trong đó một số đang được sự tài trợ của EU. Trường còn đi xa hơn bằng cách cung cấp tài chính cho những hội đoàn sinh viên nước ngoài đang hoạt động văn hóa tại Ý. Nhiều giáo viên phụ đạo được phân công theo sát các sinh viên đến từ những quốc gia đang phát triển để giúp họ tham gia các sinh hoạt ở trường cũng như trong phạm vi thành phố.
Tại Bồ Ðào Nha, đại học Lisbon là cơ sở đại học lớn nhất đã tồn tại từ năm 1288 do vua Denis thành lập. Nằm ở trung tâm Lisbon, trường có 18,700 sinh viên, trong đó có 600 sinh viên nước ngoài theo học chương trình chính quy và 700 sinh viên theo học những khóa học cấp tốc về nền văn hóa và ngôn ngữ Bồ Ðào Nha. Trường cũng đang tham gia vào các chương trình Tempus và Erasmus và cấp học bổng thông qua nhiều tổ chức khác nhau.
Cuối cùng, trong số những trường đại học ở châu Âu áp dụng chương trình dạy cấp tốc cho du khách và sinh viên nước ngoài, có thể kể đến Ðại học Prague (Cộng hòa Czech) do Hoàng Ðế Charles IV thành lập năm 1348 và được xem là Ðại học lâu đời nhất ở Trung Âu. Lúc mới thành lập, trường có 4 phân khoa : Thần học, Luậât học, Y khoa và Nghệ thuật. Sau những chuyển biến xã hội năm 1989, đại học Prague được tổ chức lại thành 16 phân khoa, chú trọng nhiều đến Y khoa, Dược khoa và Khoa học. Trường cũng có các phân khoa Luật, Thần học... và thu nhận sinh viên ngoại quốc vào hầu hết các khóa học về Anh ngữ, giao lưu quốc tế, kết hợp với 120 trường đại học lớn ở Tây Âu, Mỹ, châu Mỹ La tinh, Úc và châu Phi.